Các doanh nghiệp ở Hải Phòng bán với giá 1 đô la

 

Các vấn đề thương mại trong đó một số doanh nghiệp ở phía Bắc thành phố Hải Phòng được bán với giá 20.000 đồng đã gây ra những mối lo ngại lớn cho các cơ quan chức năng địa phương.

Theo ông Đặng Đức Hiệp, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng, trong một hội nghị được tổ chức vào đầu tháng 7 cho biết, một doanh nghiệp thành lập vào năm 2011, liên tục mua một số doanh nghiệp khác chỉ trong vòng vài tháng. Giá trị của mỗi thương vụ là 20.000 đồng, hoặc một đô la. Phần lớn các doanh nghiệp bán có lô đất lớn, nhưng họ phải chịu lỗ lớn lên tới một nghìn tỷ đồng.

Vẫn chưa rõ các chủ sở hữu mới của doanh nghiệp sẽ đối phó với các chủ nợ của các doanh nghiệp đã bán như thế nào. Vấn đề là các khoản nợ khổng lồ chỉ được biết đến với Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng khi Bộ Nông nghiệp tiếp xúc với các ngân hàng để lấy thêm thông tin khi giải quyết các đơn yêu cầu của doanh nghiệp để thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

” Còn việc hoàn thành các nợ với các đối tác và chủ nợ khác thì sao?” Ông Hiệp hỏi.

Theo quy định hiện hành, cơ quan đăng ký kinh doanh phải thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sau khi các bên liên quan đồng ý và thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo quy định.

Trong trường hợp này, các nhà phân tích cho biết, các cơ quan quản lý đã bị đưa vào chế độ thụ động, bởi vì họ không có đủ thông tin về hoạt động của doanh nghiệp.

Theo Luật sư Bùi Thanh Lâm của Công ty Luật Liên Á và Luật Cộng Sự, việc buôn bán “1 USD” ở Việt Nam đã trở nên phổ biến hơn. Giao dịch “1 SSD” đầu tiên ở Việt Nam xảy ra vào năm 2006, khi đó doanh nghiệp Trẻ Dong Nai đã mua lại Cheerfield Vina, một doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài với vốn điều lệ 2 triệu USD. Khi tiếp quản Cheerfield Vina, Tre Đồng Nai cũng phải chịu nợ khổng lồ 34 tỷ đồng.

Đây có thể được coi là hình thức mua nợ để thâu tóm doanh nghiệp, được thực hiện giữa các ngân hàng (người bán nợ), người mua và công ty được bán. Sau khi kết thúc việc bán nợ, ngân hàng sẽ chuyển tất cả các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cho chủ nợ mới.

Luật sư Lâm không thấy e ngại về khả năng các bên liên quan tránh thuế hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp được bán. Các tài liệu liên quan đến việc bán nợ phải có đầy đủ các điều khoản liên quan đến việc chuyển nhượng vốn và quyền quản lý của người mua.

Sau khi giao dịch xong, người mua sẽ trở thành chủ sở hữu mới của doanh nghiệp. Các bên liên quan sẽ bao gồm các thủ tục cần thiết để chấm dứt hợp đồng mua nợ theo các bước cần thiết khác theo yêu cầu của pháp luật.

Luật sư Lâm cũng cho biết không cần phải lo lắng rằng các doanh nghiệp sẽ né tránh các luật lệ và trốn tránh nhiệm vụ phân công, bởi vì trong trường hợp này, không có thu nhập được tạo ra.

Lo ngại của Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng là do thiếu thông tin về hoạt động của doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp, các cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ được thông báo về sự biến mất của doanh nghiệp khi thư gửi doanh nghiệp được gửi lại vì không có người nhận.

Việt Nam đang xây dựng cơ sở dữ liệu đăng ký kinh doanh quốc gia, được cho là sẽ cập nhật tất cả các thông tin cần thiết về hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hệ thống bây giờ chỉ có thể thực hiện một phần của công việc.

Vài nét chú ý về môi trường kinh tế hải phòng

Với dân số gần 2 triệu người (1.963,3 triệu), Hải Phòng là thành phố đông dân thứ ba Việt Nam (sau Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh (Tổng cục Thống kê 2015). HP là một trong các trung tâm công nghiệp quan trọng ở miền Bắc và cả nước, có mối quan hệ thương mại với trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới và đang nỗ lực trở thành một trong các trung tâm thương mại lớn nhất Việt Nam.

Trong một bài trả lời phỏng vấn báo Pháp luật Việt Nam số ngày 11/5/2015, ông Lê Văn Thành, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP.Hải Phòng cho biết lợi thế cảng biển và các điều kiện giao thông đã đem lại cho Hải Phòng những lợi thế so sánh đáng kể để phát triển kinh tế biển, chủ yếu là các ngành cảng hàng hải, du lịch biển, thuỷ sản, dầu khí và các dịch vụ kinh tế biển. Trong 10 năm kể từ 2005, kinh tế biển chiếm 30% tổng GDP của HP và GDP kinh tế biển HP cũng đóng góp hơn 30% kinh tế biển nước với tốc độ tăng trưởng mảng này cao hơn tốc độ chung cả nước. Cảng HP là nhóm cảng quan trọng nhất trong 536 cảng biển khu vực Đông Nam Á.

2016 vừa rồi là một năm đầy khởi sắc của nền kinh tế Hải Phòng.

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Hải Phòng năm 2016 là 21/63 với số điểm 60,1, lần đầu tiên trong lịch sử vượt ngưỡng 60 điểm, được xếp vào nhóm tốt (22/63 tỉnh thành phố đạt kết quả tốt và rất tốt) và lọt vào danh sách 10 địa điểm đầu tư hấp dẫn nhất đối với các doanh nghiệp dân doanh Việt Nam (52/8000 doanh nghiệp tham gia bình chọn). Trước đó, 4 năm liên tiếp từ 2013-2016, PCI của thành phố cảng luôn nằm trong nhóm tốt, xếp hạng từ 30 trở lên. Hải Phòng đã nỗ lực cải thiện vị trí của mình so với 6 năm đầu tiên khi mới có chỉ số PCI, tỉnh này luôn nằm trong tốp áp cuối (trong khoảng 36-53).

Theo báo cáo tình hình kinh tế-xã hội năm 2016 của cục thống kê Hải Phòng, quyết tâm đột phá về phát triển kinh tế của thành phố đã được minh chứng bằng thành công của một số dự án xây dựng trọng điểm đầu tư bằng nguồn ngân sách trung ương, tiêu biểu như các Dự án Đầu tư xây dựng Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng, Dự án đường ô tô Tân Vũ- Lạch Huyện, Dự án đầu tư mở rộng Khu bay – Cảng Hàng không quốc tế Cát Bi đã hoàn thành và đưa vào khai thác từ ngày 12/5/2016.

Cũng theo báo cáo trên của Cục Thống kê tỉnh, tăng trưởng kinh tế ước tính trong năm qua của HP cũng khá cao,GRDP khoảng 105.610 tỷ đồng, tăng 11,0% so với 2015, gần gấp đôi tốc độ tăng cả nước (6,21% theo báo cáo kinh tế xã hội 2016 của Tổng cục Thống kê).

(GDRP là tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh áp dụng cho các tỉnh-thành phố thuộc trung ương)

Gần 20 năm qua, trong xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Hải Phòng đã có sự dịch chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang dịch vụ, rồi dịch vụ sang công nghiệp. Cơ cấu các khu vực dịch vụ – công nghiệp, xây dựng – nông, lâm, thủy sản của HP hiện nay theo tỉ trọng đóng góp trong GDRP 2016 lần lượt là 50,50% – 42,65% – 6,85%, so với năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới, năm 2001 tương ứng là 35,46% – 47,98% – 16,56%, theo một báo cáo của cổng thông tin điện tử HP.

Trong khu vực công nghiệp – xây dựng, ngành công nghiệp là ngành chủ yếu, chiếm đến 84% và tăng trưởng 15,09% so với 2015, trong đó phần lớn nhất là các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Mức tăng của các ngành công nghiệp chủ lực được duy trì chủ yếu nhờ chủ trương thu hút các dự án đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các dự án lớn từ khu vực FDI (doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) trong các ngành sản xuất tivi, điện thoại di động, màn hình LCD sử dụng trên ô tô máy giặt, máy hút bụi, máy điều hòa sản xuất, sản phẩm may mặc…

Trong khu vực dịch vụ, tăng trưởng 9,79% có sự đóng góp từ một số ngành có tỷ trọng lớn với mức tăng như vận tải, dịch vụ kho bãi tăng 13,55%,ngành bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác 13,39% (ngành có tốc độ tăng cao nhất trong khu vực dịch vụ), dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,31%, hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 6,42%, hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 3,74%…

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, GDP năm 2016 tăng 1,03% và nhóm ngành này đóng góp rất ít vào tốc độ tăng GDP chung, chỉ có ngành phụ thủy sản tăng cao đến 4,34%.