Doanh nghiệp than phiền về phí hạ tầng cảng biển của Hải Phòng

Các doanh nghiệp đã than phiền về quyết định thu phí cao cho việc sử dụng cơ sở hạ tầng, các cơ sở dịch vụ và các tiện ích công cộng tại tất cả các bến cảng ở thành phố Hải Phòng.

Các doanh nghiệp đang bức xúc vì lệ phí gia tăng đang được tính tại thành phố cảng Hải Phòng

Ngày 13 tháng 12 năm 2016, UBND thành phố ban hành Nghị quyết quy định thu phí sử dụng công trình, cơ sở hạ tầng, công trình dịch vụ và tiện ích công cộng trong thành phố. Nghị quyết có hiệu lực vào đầu năm nay.

Theo đó, các cá nhân và tổ chức có lô hàng lưu kho ngoại quan bây giờ phải trả 2,2 triệu đồng (97 USD) lên 4,8 triệu đồng (220 USD) cho mỗi container. Đây là mức tăng gần 70%. Lệ phí vận chuyển quá cảnh từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng.

Lệ phí cơ sở hạ tầng là phương thức gia tăng chi phí dịch vụ liên quan đến tạm nhập, tái xuất, quá cảnh và hàng gửi kho ngoại quan, thực hiện vào năm 2013.

Cảng Hải Phòng hiện chiếm hơn 1/3 tổng sản lượng hàng hóa của Việt Nam, thứ hai là cảng mới Sài Gòn.

Nhiều công ty bị sốc và bối rối bởi quyết định này.

Bà Đào Thị Thu Huyền, đại diện của Tổ chức Thương mại Đối ngoại Nhật Bản (JETRO), phát biểu trong cuộc họp vào ngày 13 tháng 2 rằng mức phí này quá cao.

Bà Huyền cho biết, mức phí mới khoảng từ 11 USD/ container loại 20 feet cho hàng thường, và lên tới 100 USD / container cho hàng tạm nhập tái xuất. Bà cho biết một cuộc khảo sát của JETRO cho thấy 65% các công ty Nhật Bản đang lo lắng về quyết định của thành phố.

“Nhiều công ty Nhật Bản đang bối rối về những gì đang diễn ra”, bà nói, hơn nữa, nguồn thu nhập này không minh bạch, thành phố Hải Phòng đã thu phí ngay cả khi cơ sở hạ tầng chưa hoàn thành và bà cho rằng thành phố nên tiến hành một cuộc khảo sát để lấy ý kiến về vấn đề này.

Ông Đào Minh Giám, Tổng thư ký Hiệp hội doanh nhân trẻ Việt Nam, lo ngại các doanh nghiệp nước ngoài có thể chọn Thái Lan để tái xuất nhập khẩu khu vực Đông Nam Á thay vì Việt Nam, làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của đất nước.

Bà Phạm Thị Ngọc Thuý, Phó Tổng Thư ký Diễn đàn Khu vực tư nhân Việt Nam (VPSF), đồng ý rằng Hải Phòng đã đưa ra một quyết định quá bất ngờ, khiến những công ty nước ngoài choáng váng với những thay đổi đột ngột này và họ không biết xử lý ra sao.

Bà còn cho biết, ngoài chi phí cao hơn, lệ phí mới cũng dẫn đến nhiều thủ tục giấy tờ mà có thể cần thêm hai đến ba giờ để kết thúc. Có đến 20% doanh nghiệp phải thuê kho trong một ngày để hoàn thành các thủ tục, dẫn đến phát sinh thêm chi phí.

Tính toán của các chuyên gia cho thấy rằng các công ty phải chi tră hơn 15,2 triệu USD mỗi năm cho kho hàng và lãi suất, ngoài các chi phí trả cho thành phố.

Theo Sở Tài chính Hải Phòng, mỗi năm cảng nhận 80 triệu tấn hàng và có thể thu được 1,5 nghìn tỷ đồng từ mức phí đề xuất.Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết họ lo ngại rằng quyết định này sẽ tạo ra tiền lệ nguy hiểm trong các cảng hàng không và hàng hải khác, gây bất lợi cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.

Do đó, VCCI đã kêu gọi Thủ tướng Chính phủ xem xét những tác hại của chính sách này và chỉ đạo cơ quan có thẩm quyền của thành phố giải thích nguyên nhân thu lệ phí và đánh giá tác động của nó. Nếu không có lời giải đáp hợp lý, VCCI đề xuất thời gian chuyển tiếp để áp dụng các quy định mới. Thời gian tối thiểu phải là sáu tháng để cho các doanh nghiệp đủ thời gian để chuẩn bị và tránh những ảnh hưởng bất lợi.

Các chỉ số kinh tế Cambodia sụt giảm do đâu?

Thước đo kinh tế sụt giảm do tình trạng bất ổn về chính trị

Theo một cuộc khảo sát mới của ANZ Royal Bank, niềm tin trong kinh doanh giữa các công ty hoạt động tại Campuchia đã giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều năm qua do sự suy giảm về ổn định chính trị và lo lắng về các cuộc tổng tuyển cử vào năm tới và có thể sẽ làm cho nhà đầu tư giảm hứng thú trong tương lai gần .

Chỉ số niềm tin kinh doanh của ANZ, điểm chuẩn lấy dữ liệu từ các doanh nghiệp được khảo sát trên toàn ngành, ngành nông nghiệp và dịch vụ, đã đánh giá mức độ niềm tin kinh doanh tổng thể tại Campuchia ở mức 76 trên 100, giảm 7 điểm so với cuộc khảo sát năm ngoái.

Theo báo cáo, được công bố hàng năm kể từ năm 2014 “Tổng điểm của niềm tin kinh doanh trong 12 tháng tới đã giảm xuống mức thấp nhất của tất cả các đợt nghiên cứu”

“Sự suy giảm của niềm tin tổng thể có thể xuất phát từ sự cạnh tranh ngày càng tăng trên thị trường, nhận thức được sự bất ổn về chính trị và sự không chắc chắn của cuộc bầu cử sắp tới, ngăn chặn các khoản đầu tư trong thời gian gần đây”.

Tổng thể sự sụt giảm niềm tin chiếm hai phần ba số doanh nghiệp được khảo sát, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), báo cáo cho thấy rằng họ dự kiến ​​sẽ có doanh thu thấp hơn so với năm trước, ngoại trừ lĩnh vực nông nghiệp, cho thấy nhiều tín hiệu lặc quan.

Các doanh nghiệp có quy mô lớn, cũng dấy lên những lo ngại tương tự như các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tuy nhiên báo cáo cho thấy không có nhiều thay đổi trong sự tự tin, điều mà báo cáo cho là nhờ vào quy hoạch kinh doanh được thiết lập tốt.

Mặc dù cuộc khảo sát ghi nhận rằng có một số chỉ số tích cực trong doanh thu dự kiến ​​và tăng trưởng kinh doanh do hoạt động liên tục đảm bảo cho việc mở rộng trong tương lai, những điểm này lại bị các mối quan tâm chính trị khỏa lấp. Các công ty cũng báo cáo rằng họ đã không tin vào việc khoản đầu tư hiện tại sẽ tăng thêm để mở rộng quy mô tiềm năng do những lo ngại về sự mất mát của tâm lý người tiêu dùng.

Tuy nhiên, các động lực chính cho tăng trưởng kinh doanh vẫn không thay đổi với việc tiếp cận với nguồn nhân lực giá rẻ và các sáng kiến ​​thu thuế được cải thiện được coi là làm cân bằng sân chơi bằng cách nhắm vào những người trục lợi bằng cách không đáp ứng các nghĩa vụ của họ.

Tham nhũng, một lần nữa trở thành vấn nạn then chốt đối với các doanh nghiệp, trong khi thiếu cơ sở hạ tầng, chất lượng giáo dục và chi phí cao của các tiện ích gây tốn kém cho hoạt động cũng là một mối quan tâm cho những người được khảo sát.

David Totten, Giám đốc Emerging Markets Consulting, cho biết mặc dù báo cáo cho thấy phần lớn các rào cản đã được giảm đáng kể, nhưng thật khó để có thể làm giảm được sự suy giảm tự tin, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

“Câu hỏi thú vị là, lý do của sự sụt giảm về tự tin kinh doanh, thu nhập và sự tăng trưởng dự kiến so với các tập đoàn lớn hơn là gì ?”, Ông nói.

“Các nhà hoạch định chính sách kinh tế ở nhiều quốc gia phấn đấu cho một phân khúc doanh nghiệp vừa và nhỏ để phát triển kinh tế. Vì vậy, dựa trên số liệu này, suy giảm trong sự tự tin của doanh nghiệp vừa và nhỏ không phải là một tín hiệu tích cực. ”

David Van, giám đốc điều hành địa phương của Bower Group Asia, nói rằng sụt giảm sự tự tin nên được dự đoán trước miễn là mối quan ngại trước bầu cử vẫn còn tồn tại.

“Thực tế phổ biến ở Campuchia là trong suốt chu kỳ trước bầu cử, các doanh nghiệp, dù ở trong nước hay nước ngoài, đều có khuynh hướng chậm lại khi công chúng lo lắng quan sát sự căng thẳng gia tăng, với các cuộc biểu tình công khai trong quá khứ và dự kiến ​​trong Thời kỳ bầu cử sắp tới “, ông nói.

Báo cáo cũng ghi nhận rằng kể từ khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập vào cuối năm 2015, các doanh nghiệp nhận thấy rằng các tác động bao trùm của khối kinh tế khu vực, với lợi ích xuyên biên giới, và tăng nguy cơ cạnh tranh, đã không thành hiện thực như mong đợi.

Ông Van nói rằng mặc dù AEC đã được các chính phủ thúc đẩy bởi việc quảng bá một môi trường thương mại tự do hơn nhưng nó vẫn chưa được coi là một thay đổi đáng kể.

“Các quốc gia thành viên ASEAN sẽ được hưởng lợi từ khái niệm vận chuyển hàng hoá và dịch vụ tự do của AEC nhưng các nước thành viên kém phát triển hơn có khuôn khổ pháp lý yếu kém như Campuchia, Lào hay Myanmar vẫn sẽ rất vất vả” Ông nói.

Sophal Ear, giáo sư chuyên về các vấn đề thế giới tại trường Đại học Occidental ở Los Angeles, nói rằng không có gì đáng ngạc nhiên khi chính trị đã làm ý chí kinh doanh trở nên tồi tệ hơn.

Ông nói: “Không chỉ riêng sự quan ngại về chính trị trong cuộc bầu cử sắp tới gây ra sự sụt giảm lớn về mức độ tự tin kinh doanh. “Đó là môi trường chính trị độc đoán và phi tập trung, trong đó không có điểm bất đồng nào bị ức chế”

Ông cũng nói thêm rằng các doanh nghiệp “cần những khách hàng vui vẻ và chịu chi tiền mua sắm chứ không phải những khách hàng đang tức giận và sợ hãi”.

 

 

Tổng quan tình hình kinh tế và một số thuận lợi trong môi trường kinh doanh Đông Nam Á

Các nước thành viên hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một nhà máy kinh tế mạnh với tổng GDP trên 2,6 ngàn tỷ USD và tổng dân số hơn 625 triệu người ngày càng gia tăng.

ASEAN bao gồm 10 quốc gia: Brunei, Cambodia, Indonesia, Laos, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thailand, và Vietnam. Tổ chức này được thành lập để thúc đẩy sự phát triển chính trị, văn hóa, kinh tế trong khu vực. Nhờ đó, tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong các ngành công nghệ, sinh học, tự động hóa và không gian ngày càng đi lên.

Tháng 1-2016, hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) được thông qua nhằm mục đích tạo ra một thị trường chung cho các quốc gia Đông Nam Á tương tự như cộng đồng châu Âu (EC-European Community).

ASEAN cũng là nơi được Mỹ đầu tư nhiều hơn bất kỳ thị trường nào khác ở châu Á, kể cả Trung Quốc. Theo dự báo của một số chuyên gia, viễn cảnh Đông Nam Á vượt qua Trung Quốc để trở thành lãnh đạo công nghiệp hàng đầu thế giới có thể xảy ra trong 10 tới 15 năm tới.

Dưới đây là một số lợi thế cụ thể khi các nhà đầu tư chọn Đông Nam Á làm địa điểm kinh doanh, theo lời khuyên của các chuyên gia công ty tư vấn pháp lý CT Corporation (Mỹ):

Mức độ tăng trưởng kinh tế cao

Một trong những lý do khiến tổng vốn đầu tư vào ASEAN của Mỹ nhiều hơn tổng mức đầu tư của nước này vão 4 nước công nghiệp nổi tiếng Brazil, Nga, Trung Quốc và Ấn Độ là mức độ tăng trưởng kinh tế cao. Khu vực này có GDP mạnh kể cả khi bị tác động tiêu cực của nền kinh tế Trung Quốc đang đi xuống. Theo ước tính, tổng tăng trưởng GDP của ASEAN năm 2017 là 4,8%, cao hơn cả Trung Quốc trong kịch bản lạc quan là tăng trưởng kinh tế.

Tầng lớp trung lưu gia tăng

Tầng lớp trung lưu ở ASEAN đang gia tăng cùng với sự gia tăng dân số. Ở Indonesia nói riêng, theo kỳ vọng, tầng lớp trung lưu sẽ đạt 140 triệu người vào năm 2020. Toàn bộ khu vực này được kỳ vọng sẽ trở thành trung tâm tiêu dùng hàng đầu với các nhu cầu về hàng hóa xa xỉ và có thương hiệu đang gia tăng.

Cơ sở hạ tầng

 Trong quá khứ Đông Nam Á từng phải vật lộn về vấn đề cơ sở hạ tầng nhưng giờ đây các nước này đang tự tin tiến bước để giải quyết vấn đề này bằng cách gia tăng chi tiêu, điển hình như Việt Nam đang xây dựng tàu điện ngầm đô thị, một sân bay trung tâm quốc tế, mở rộng các sân bay nội địa; Indonesia có kế hoạch chi tiêu cho cơ sở hạ tầng nhiều hơn từ lợi nhuận do giá dầu hạ thấp; chính phủ Philippines cam kết tăng chi tiêu cơ sở hạ tầng từ 3 lên 5% GDP.

 Theo báo cáo, một phần ba giới lãnh đạo doanh nghiệp kỳ vọng các cải tiến này sẽ giúp ASEAN gia tăng tầm quan trọng của các hoạt động lẫn doanh thu toàn cầu trong hai năm tới.

Lực lượng lao động trẻ

Châu Á là nơi có lực lượng lao động trẻ và đông nhất thế giới với tổng cộng 3 tỉ lao động, chiếm 52% lao động toàn cầu. Độ tuổi lao động trung bình ở Philippines, Singapore, Malaysia, và Indonesia là dưới 35.

Tổng quan thị trường bất động sản Đông Nam Á

Mặc dù một số nước trong khu vực có triển vọng tốt hơn số còn lại, nhìn chung Đông Nam Á là một khu vực rất hấp dẫn trong ngành bất động sản. Nền tảng kinh tế mạnh, dân số năng động, thay đổi trong hành vi tiêu dùng và cách mạng kỹ thuật số đang tạo ra nhiều cơ hội mới cho các tay chơi đa dạng gia nhập ngành.

Toàn thể ASEAN đều hưởng lợi từ các nền tảng rất mạnh định hướng cho thị trường bất động sản: tăng trưởng dân số và GDP đều cao. Các ví dụ  tiêu biểu như Việt Nam đã cởi bỏ các quy tắc về sở hữu nhà cho người nước ngoài, cho phép người nước ngoài được mua nhà riêng ở chung cư. Hay giới cầm quyền Indonesia cũng đang thảo luận vấn đề này để thúc đẩy đầu tư, đặc biệt là trong các phân khúc bất động sản cao cấp hơn.

Riêng tại Singapore và Malaysia, thị trường đã nguội lạnh từ 2014-2015. Để kích thích người mua, các nước này đang bắt đầu nới lỏng các biện pháp từng được dùng để giảm nhiệt thị trường nhằm mục đích kích thích sức mua và đầu tư trong các tháng và năm tiếp theo.

Trước đây, Singapore đã từng là quốc gia dẫn đầu châu Á về đầu tư nước ngoài vào ngành bất động sản. Nhờ luật lệ về vốn và bất động sản được cởi bỏ, các nhà đầu tư trên toàn thế giới đã đầu tư nhiều hơn vào đảo quốc sư tử và kỳ vọng doanh thu từ sự tăng giá bất động sản tự nhiên ở đây. Tuy nhiên, thị trường đi xuống gần đây ở Sing đã khiến một số người thoái vốn đầu tư.

Tại Indonesia, đây vẫn là thị trường bất động sản rất hấp dẫn vì dân số đông và trẻ. Khi người Indo có công việc đầu tiên, họ gia nhập nhóm dân thu nhập trung bình và tầng lớp trung lưu. Tầng lớp này hiện đang có khoảng 45-50 triệu người và dự kiến sẽ tăng thêm ít nhất 40 triệu nữa trong 40 năm tới. Sự tăng trưởng dân số này lại định hướng cho quá trình đô thị hóa, phát triển các thành phố vì những người trẻ mới trưởng thành cần có công việc và nhà ở.

Các xu hướng dân số này được kỳ vọng sẽ kéo nhu cầu bất động sản lên cao và khiến các nhà phát triển bận rộn trong nhiều thập kỷ tới. Ngoài ra, chương trình “1 triệu ngôi nhà” mà chính phủ nước này phát động cũng sẽ kích thích thị trường ở phân khúc thấp hơn. Các dao động trong sự bùng nổ thị trường ở Indo đều được thể hiện qua cổ phiếu của các công ty bất động sản.

Thêm một lý do nữa là tại Indo và hầu hết các nước Đông Nam Á, số người truy cập Internet qua các thiết bị di động ngày càng gia tăng. Sự bùng nổ 2 lĩnh vực bất động sản và sử dụng smartphone sẽ mang lại động lực mới cho các tìm kiếm bất động sản trực tuyến, tạo thêm cơ hội mới cho các nhà buôn bất động sản.

Trong bối cảnh đó, các cổng thông tin trực tuyến cần phải tiếp cận nhiều người hơn để marketing ở  Indo, VN hay ASEAN nói chung. Các biện pháp thường thấy là cùng hợp tác hoặc thông qua mua lại và sáp nhập với các cổng thông tin trực tuyến khác.

Điều cuối cùng, vì mua nhà là một quyết định quan trọng, cũng là nguồn gốc chính tạo ra sự căng thẳng và ngần ngại nơi người mua nên một trong những chìa khóa chính để thành công trong marketing bất động sản trực tuyến là tạo các trải nghiệm mua bất động sản dễ dàng. Vì vậy, vai trò của các cổng thông tin trực tuyến là mở rộng trải nghiệm người mua thông qua các biện pháp nổi bật như:

Minh bạch: Cung cấp các nghiên cứu và thông tin cho người mua để giúp họ trong quá trình tìm kiếm bất động sản và ra quyết định.

Đầu tư cho tiếp thị để gia tăng sức lan tỏa thương hiệu và thu hút mọi người vào website.

Đổi mới. Thử nghiệm những sản phẩm, dịch vụ mới để tăng cường trải nghiệm người mua và xem trọng việc sử dụng thiết bị di động.

 

Một số thách thức trong môi trường kinh doanh ở Đông Nam Á

Với triển vọng trở thành trung tâm tiêu dùng quốc tế trong 10-15 năm tới, tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, lao động trẻ, chính sách gia tăng phát triển cơ sở hạ tầng cùng các điều kiện vĩ môi thuận lợi khác, Đông Nam Á đang là địa điểm vàng của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, vì đặc thù của thị trường này là một nhóm quốc gia đa dạng nên bạn cần xem xét kỹ các vấn đề thực tế trong kinh doanh ở Đông Nam Á. Việc này sẽ giúp bạn có sự chuẩn bị tốt trước khi đối mặt với sự phức tạp trong việc bắt đầu kinh doanh và điều hành doanh nghiệp ở khu vực này.

Dưới đây là một số lợi thế cụ thể khi các nhà đầu tư chọn Đông Nam Á làm địa điểm kinh doanh, theo lời khuyên của các chuyên gia công ty tư vấn pháp lý CT Corporation (Mỹ):

Tham nhũng

Theo khảo sát của ASEAN Business Outlook, tham nhũng vẫn tiếp tục là một trong những vấn nạn ngày càng quan trọng ở Đông Nam Á, khi việc thực thi pháp luật thường bị bỏ qua hoặc đáp trả bằng bạo lực, và việc hối lộ khá phổ biến kể cả khi khách hàng làm trong khu vực công.

Chỉ có một ngoại lệ lớn đáng chú ý là Singapore, quốc gia nhiều năm liền nằm trong top 10 nước ít tham nhũng nhất thế giới (xếp thứ 7 năm 2016), theo chỉ số nhận thức tham nhũng của tổ chức minh bạch quốc tế.

 Các lo ngại về sở hữu trí tuệ

Cơ chế sở hữu trí tuệ (intellectual property-IP) tương đối yếu kém ở một số nước ĐNA đã tạo ra những vấn đề cho nhiều công ty, đặc biệt là trong khu vực sản xuất và phát triển. Việc thực thi luật và quy định về IP vẫn là vấn đề dai dẳng, và các văn phòng IP các nước khác nhau lại có mâu thuẫn với nhau.

 Tình hình đã cải thiện khi các nước cùng ký vào thỏa thuận khung ASEAN về hợp tác sở hữu trí tuệ, cho phép tiến tới các thỏa thuận IP toàn cầu và gia tăng các nguồn lực địa phương trong việc củng cố luật pháp và đăng ký. Các thư viện bằng sáng chế cũng được mở rộng và dễ dàng tiếp cận hơn.

 Khác biệt trong nghi thức giao tiếp kinh doanh Đông-Tây

 So với phương Tây, việc xây dựng và phát triển các quan hệ kinh doanh nói chung ở châu Á thường mất thời gian nhiều hơn. Các cuộc họp trực diện rất phổ biến so với họp qua điện thoại và email khi niềm tin và tình bạn cá nhân là nền móng cho quan hệ kinh doanh trong khu vực. Vì vậy, kế hoạch kinh doanh ở các nước châu Á cần dành thêm nhiều thời gian đầu tư vào việc gặp gỡ trực tiếp.

 Một điều quan trọng nữa là xem xét các mối liên lạc kinh doanh. Các nhà đầu tư tiềm năng phải quan tâm đến việc không làm cho đối tác của mình cảm thấy hổ thẹn hoặc xấu hổ. Ví dụ như việc từ chối một bữa ăn chung hoặc một món quà phù hợp có thể được xem là sự xúc phạm, hay trách mắng lỗi lầm của người khác trong đám đông là điều không thể chấp nhận. Một giao dịch hoặc quan hệ kinh doanh ở châu Á có thể bị phá hoại nếu bạn không hiểu được những khác biệt văn hóa nêu trên.

7 bí quyết để khởi nghiệp kinh doanh ở Đông Nam Á

1.Đông Nam Á được hình thành bởi 10 thị trường khác nhau

Mặc dù mọi người ở các nước khác thường nghĩ rằng Đông Nam Á (ASEAN) là một thị trường duy nhất và nền kinh tế đứng thứ 7 trên thế giới. Tuy nhiên con số thực tế không hẳn là vậy.

Nếu bạn đang muốn tìm kiếm những cơ hội mới ở Đông Nam Á thì cần phải hiểu rõ về sự khác biệt của 10 thị trường bao gồm:

  • 10 đơn vị tiền tệ
  • 9 Ngôn ngữ chính thức
  • Hệ thống pháp luật riêng biệt
  • Cơ sở hạ tầng đa dạng

Chỉ cần một chuyến bay từ sân bay Singapore đến thành phố Jakarta là bạn đã có thể nhận ra được sự khác biệt lớn giữa các thị trường.

Mỗi thị trường đều có những điểm độc đáo và nhiều cơ hội hấp dẫn cho các công ty nước ngoài mở rộng đầu tư.  Sự đa dạng này được xem như một rào cản lớn để đạt được quy mô.

Không giống với thị trường của các nước như Mỹ Latinh và Tây Âu, nơi mà các công ty đa quốc gia có thể dễ dàng tập trung các nước thành một thị trường rộng lớn, nhưng điều này không dễ có được ở các nước Đông Nam Á do sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa và thói quen chi tiêu.

Theo kinh nghiệm của chúng tôi, các công ty đang mong muốn tìm kiếm các quốc gia độc lập và sử dụng chiến lược “go-to-market” như Singapore để quản lý và điều hành trong khu vực cũng như toàn cầu.

2.Khảo sát thị trường

Để hiểu rõ hơn về ASEAN, bạn cần phải lên đường và đến thị trường mà bạn quan tâm, gặp gỡ với phòng thương mại,các nhà cung cấp, khách hàng và đối tác tiềm năng.

Nói chuyện và trao đổi với những người đã sống và làm việc ở đó để họ có thể đưa ra một vài khía cạnh giúp bạn hiểu rõ thị trường mà bạn muốn làm việc.

  1. Hiểu rõ những cơ hội là gì

Những cơ hội mang đến cho chúng ta ở khu vực Đông Nam Á là gì:

  • Dân số hơn 620 triệu người
  • Tầng lớp trung lưu phát triển nhanh chóng
  • Kết nối cao, chủ yếu là điện thoại di động
  • Hàng trăm triệu người trải nghiệm Internet lần đầu tiên trên điện thoại thông minh
  • Giảm thuế hải quan và các loại thuế khi tham gia khối thương mại ASEAN
  • Tỷ lệ đô thị hoá tăng cao
  • Chi phí đi lại giữa các nước trong khối ASEAN thường thấp
  • Dễ dàng di chuyển lao động
  1. Hiểu rõ những thách thức

Mặc dù cơ hội vô cùng hấp dẫn nhưng bạn phải cân nhắc với những thách thức tiềm ẩn và tránh bị thất vọng như:

  • Sự chênh lệch về kinh tế
  • Mức độ phức tạp của việc kinh doanh đa dạng trên thị trường

Bạn có thể làm việc với các trung tâm thương mại quốc tế đã được thành lập như Singapore hoặc những thị trường mới mở dành cho các đầu tư nước ngoài như Campuchia và Myanmar.

Ngoài ra cần lưu ý những điểm sau về chính sách pháp lý trong môi trường kinh doanh ở khu vực Đông Nam Á.

  • Các quy định của địa phương và trong khu vực (ví dụ các yêu cầu về giấy phép, thương mại điện tử và các quy tắc bảo vệ dữ liệu)
  • Chính sách nhập cư
  • Bảo vệ thương hiệu
  • Đăng ký sở hữu trí tuệ

Vấn đề tham nhũng cũng là một rủi ro đối với các công ty kinh doanh trong khu vực này.

5.Bạn có thể làm một mình?

Hầu hết các thị trường ở ASEAN đều có những hạn chế về đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Thông thường bắt buộc các công ty nước ngoài cần phải có đối tác địa phương hoặc cổ đông địa phương, hạn chế nhân sự chủ chốt của nước ngoài hoặc yêu cầu kiểm tra công ty và phê duyệt trước khi hoạt động. Ngoài Singapore, nhìn chung các nước thành viên ASEAN còn hạn chế hơn so các nước OECD. Điều này còn tùy thuộc vào lĩnh vực mà bạn đang hoạt động vì có một số ngành được quy định nghiêm ngặt hơn các ngành khác như viễn thông, thủy sản hay ngân hàng.

Vì vậy việc tìm kiếm một đối tác địa phương là quan trọng và cần thiết và chắc chắn đó là người bạn có thể tin tưởng và đồng hành cùng bạn để xây dựng doanh nghiệp.

6.Bạn có tìm được đúng người?

Tìm được đồng đội phù hợp để có thể giúp phát triển doanh nghiệp của bạn là một thách thức ở bất cứ thị trường nào. Tuy nhiên, ở thị trường Đông Nam Á bạn phải đối mặt với không ít những thách thức khác như có trình độ giáo dục, kinh nghiệm liên quan đến ngành và khả năng về ngôn ngữ.

Một số quốc gia và khu vực cũng có những hạn chế nghiêm ngặt về tuyển dụng người nước ngoài. Nếu bạn có ý định cử nhân viên ra nước ngoài hoặc thuê nhân tài nước ngoài thì chắc chắn rằng liệu họ có thể làm việc ở nước ngoài hay không. Ví dụ như bộ phận nhân sự của Singapore đều có một công cụ tự đánh giá năng lực làm việc để xác định liệu họ có đủ điều kiện để nhận công việc hay không.

7.Kiên nhẫn

Nếu bạn đã cam kết với thị trường mốc thời gian mà bạn đã đề xuất trên thực tế để bạn có thể quản lý những kỳ vọng. Tuy nhiên có một số ngành cần nhiều thời gian để chuẩn bị những giấy tờ cần thiết nên bạn cần kiên trì:

  • Quá trình nhập cư
  • Giấy phép nhập khẩu
  • Giấy phép kinh doanh và các tài liệu bổ sung
  • Các ngành có thể bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của cơ quan pháp luật hoặc cơ quan chính phủ mà chưa được dự báo trước.